| Chúa Nhật IV MC - Năm A | |
Chúa Giê-su là ánh sáng thế gian | |
Nếu đọc chương 8 trước đó, ta nhận ra cuộc tranh luận rất quyết liệt giữa Chúa Giê-su và người Pha-ri-sêu. Chúa Giê-su muốn thuyết phục họ hãy nhìn nhận xuất xứ và chân tính của Người. Người là Đấng Ki-tô (Con Người) từ Thiên Chúa mà đến, là Chúa Con và là chính Thiên Chúa đã đến để giải phóng nhân loại. Nhưng người Do-thái cũng cương quyết không muốn nhìn nhận sự thật Chúa đã mặc khải cho họ. Sự thật ở đây có nghĩa là đạo lý của chính Thiên Chúa được tỏ lộ cho nhân loại qua chân tính và sứ mệnh của Chúa Giê-su. Không những họ chối bỏ Chúa Giê-su, họ còn đi xa hơn bằng cách lăng mạ Người là kẻ ngoại (người Sa-ma-ri), là kẻ bị quỷ ám! Và cuối cùng họ muốn tiêu diệt Người bằng cách ném đá Người. Vậy để trả lời cho người Do-thái muốn biết rõ xuất xứ và sứ mệnh của Chúa Giê-su, thánh Gio-an chọn dấu lạ Chúa chữa người mù từ lúc mới sinh, để qua dấu lạ nhận thấy được bằng mắt họ sẽ nhận ra thực tại Chúa Giê-su là ai. Chúa Giê-su là ánh sáng thế gian, Đấng chiến thắng bóng tối của tội lỗi và sự chết. Việc đem lại ánh sáng tự nhiên cho anh mù cũng như ánh sáng siêu nhiên cho đời sống đức tin của anh nói lên sự cứu rỗi trọn vẹn Thiên Chúa muốn thực hiện cho con người. Tiếp đến, để minh chứng Chúa Giê-su là Chúa của ngày sa-bát, thánh sử đã nêu lên sự kiện trong ngày sa-bát Chúa Giê-su đã làm việc (vì Người nhào nước bọt với đất làm thành bùn để bôi lên mắt anh mù). Chỉ duy có Thiên Chúa mới làm việc trong ngày sa-bát, vì Người làm chủ cả ngày sa-bát. Như vậy, chỉ có là chính Thiên Chúa thì Chúa Giê-su mới “làm việc” ngày sa-bát. Thực vậy, Chúa Giê-su đã có lần khẳng định điều này: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc” (Ga 5:17), tức là nếu Chúa Cha làm việc ngày sa-bát, thì Chúa Con cũng làm việc ngày sa-bát, nhất là công việc ấy lại là cứu thoát một người. Ngoài ra, thánh Gio-an còn mượn những lời đối đáp của anh mù trong cuộc điều tra do những người Pha-ri-sêu, để lý luận đanh thép và khẳng định rằng Đấng đã chữa lành anh mù từ thuở mới sinh có tên gọi là Giê-su, là người bởi Thiên Chúa mà đến và là Con Người. Ta cũng nên lưu ý tới sự căng thẳng mỗi lúc một trầm trọng hơn trong cuộc tranh luận giữa anh mù được chữa lành với kẻ thù của Chúa Giê-su. Họ càng lăng mạ Chúa bao nhiêu thì anh càng hăng hái và can đảm bênh vực Chúa bấy nhiêu. Anh không chút sợ hãi, cho dù cuối cùng có bị trục xuất khỏi Đền Thờ. Dĩ nhiên khi nhắc đến việc anh mù được Chúa chữa lành đã bị đuổi ra khỏi Đền Thờ, thánh Gio-an muốn khích lệ những Ki-tô hữu gốc Do-thái rằng cho dù họ có bị loại trừ khỏi cộng đồng Do-thái vì là Ki-tô hữu và vì làm chứng cho Chúa Giê-su, thì họ cũng cứ an tâm, vì Chúa luôn ở bên họ giống như Người đã trở lại để củng cố đức tin của anh mù từ lúc mới sinh. Nhưng ngài cũng muốn nhắc nhở các Ki-tô hữu mọi thời mọi nơi về những bách hại họ phải chịu vì làm chứng cho Chúa Giê-su. Đức tin của ta phải phát triển và đi tới mức trưởng thành là hoàn toàn tin thờ Chúa, như anh mù từ lúc mới sinh đã sấp mình bái lạy Chúa. Chính lúc ta bị bách hại là lúc Chúa ở ngay bên ta để giúp cho đức tin của ta được mạnh mẽ thêm. “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? Chúa là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa?” (Tv 27). Phụng vụ Lời Chúa mùa Chay lấy chủ đề Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô làm chính để ta có thể suy niệm và đổi mới đức tin của ta. Ta có thể làm những việc lành khác, tham dự tuần đại phúc, làm thêm việc bác ái trong mùa Chay. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là làm sao để con đường làm môn đệ Chúa phải càng ngày càng đưa ta đến gần Chúa hơn, để ta có thể kết hiệp với Người trong cuộc Thương khó và sống lại với người trong đời sống mới, sống theo Thần Khí của Chúa Ki-tô. Thánh Gio-an dùng dấu lạ Chúa chữa lành người mù từ khi mới sinh để giúp ta nhận ra Chúa là ánh sáng trần gian. Đâu là những dấu lạ trong đời tôi giúp tôi nhận ra Chúa Giê-su qua những hình ảnh mỗi ngày một sống động hơn? Có khi nào tôi đã tránh né không làm chứng cho Chúa Giê-su? Tôi đã sẵn sàng để kết hiệp với Chúa Giê-su trong cuộc Thương khó của Người bằng chính những hy sinh của đời tôi chưa? Xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy. Xin cho con được thấy bản thân với những yếu đuối và khuyết điểm, những giả hình và che đậy. Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con cả những khi con không cảm nghiệm được. Xin cho con thực sự muốn thấy, thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa chiếu dãi vào bóng tối của con. Như người mù ngồi bên vệ đường xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.” (Trích RABBOUNI, lời nguyện 12) | |